Tại Luật Giao dịch điện tử 2023 quy định về chữ ký điện tử, việc thay đổi chữ ký điện tử không đương nhiên làm mất hiệu lực của hợp đồng điện tử đã giao kết. Xem chi tiết tại bài viết dưới đây.
Thay đổi chữ ký điện tử có làm mất hiệu lực của hợp đồng điện tử đã giao kết?
Tại Điều 35 Luật Giao dịch điện tử 2023 quy định về giao kết hợp đồng điện tử, theo đó đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết hợp đồng điện tử được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu được xác định theo luật này.
Đồng thời, hiệu lực của hợp đồng theo Điều 401 Bộ luật Dân sự 2015 thông thường được xác định từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.
Bên cạnh đó, căn cứ khiến hợp đồng mất hiệu lực được quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015 khi có vi phạm các điều kiện theo Điều 117 Bộ luật dân sự 2015.
Tại khoản 11 Điều 3 Luật Giao dịch điện tử 2023 xác định chữ ký điện tử là một dạng thông điệp dữ liệu nhằm xác nhận chủ thể ký và khẳng định sự chấp thuận của chủ thể đó đối với thông điệp dữ liệu là nội dung hợp đồng điện tử.
Như vậy, việc thay đổi chữ ký điện tử không đương nhiên làm mất hiệu lực của hợp đồng điện tử đã giao kết, trừ trường hợp sau:
– Các bên có thỏa thuận việc thay đổi là căn cứ khiến hợp đồng vô hiệu.
– Chữ ký điện tử bị thay đổi dẫn đến việc không đảm bảo yêu cầu về chữ ký điện tử tại khoản 3 Điều 22 Luật Giao dịch điện tử 2023.
– Chủ thể bị đe dọa, lừa dối khi thực hiện giao kết hợp đồng điện tử.
>>> Chữ ký điện tử và chữ ký trên giấy có giá trị pháp lý tương đương không?
Chữ ký điện tử dùng trong giao kết hợp đồng điện tử là loại chữ ký nào?
Tại khoản 11, khoản 12 Điều 3 Luật Giao dịch điện tử 2023 định nghĩa như sau:
Giải thích từ ngữ
….
11. Chữ ký điện tử là chữ ký được tạo lập dưới dạng dữ liệu điện tử gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gíc với thông điệp dữ liệu để xác nhận chủ thể ký và khẳng định sự chấp thuận của chủ thể đó đối với thông điệp dữ liệu.
12. Chữ ký số là chữ ký điện tử sử dụng thuật toán khóa không đối xứng, gồm khóa bí mật và khóa công khai, trong đó khóa bí mật được dùng để ký số và khóa công khai được dùng để kiểm tra chữ ký số. Chữ ký số bảo đảm tính xác thực, tính toàn vẹn và tính chống chối bỏ nhưng không bảo đảm tính bí mật của thông điệp dữ liệu.
Căn cứ Điều 22 Luật Giao dịch điện tử 2023 quy định cụ thể về Chữ ký điện tử như sau:
Chữ ký điện tử
1. Chữ ký điện tử được phân loại theo phạm vi sử dụng bao gồm:
a) Chữ ký điện tử chuyên dùng là chữ ký điện tử do cơ quan, tổ chức tạo lập, sử dụng riêng cho hoạt động của cơ quan, tổ chức đó phù hợp với chức năng, nhiệm vụ;
b) Chữ ký số công cộng là chữ ký số được sử dụng trong hoạt động công cộng và được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký số công cộng;
c) Chữ ký số chuyên dùng công vụ là chữ ký số được sử dụng trong hoạt động công vụ và được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký số chuyên dùng công vụ.
Như vậy chữ ký điện tử được chia thành các loại sau:
– Chữ ký điện tử chuyên dùng của cơ quan, tổ chức
– Chữ ký số công cộng
– Chữ ký số chuyên dùng công vụ
Theo đó, cá nhân, tổ chức được sử dụng chữ ký số công cộng trong trường hợp giao kết hợp đồng khi đảm bảo các điều kiện luật định cụ thể tại khoản 3 Điều 22 Luật Giao dịch điện tử 2023 như sau:
Chữ ký điện tử
….
3. Chữ ký số là chữ ký điện tử đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây:
a) Xác nhận chủ thể ký và khẳng định sự chấp thuận của chủ thể ký đối với thông điệp dữ liệu;
b) Dữ liệu tạo chữ ký số chỉ gắn duy nhất với nội dung của thông điệp dữ liệu được chấp thuận;
c) Dữ liệu tạo chữ ký số chỉ thuộc sự kiểm soát của chủ thể ký tại thời điểm ký;
d) Mọi thay đổi đối với thông điệp dữ liệu sau thời điểm ký đều có thể bị phát hiện;
đ) Phải được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký số. Trường hợp chữ ký số chuyên dùng công vụ phải được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký số của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng công vụ. Trường hợp chữ ký số công cộng phải được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký số của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng;
e) Phương tiện tạo chữ ký số phải bảo đảm dữ liệu tạo chữ ký số không bị tiết lộ, thu thập, sử dụng cho mục đích giả mạo chữ ký; bảo đảm dữ liệu được dùng để tạo chữ ký số chỉ có thể sử dụng một lần duy nhất; không làm thay đổi dữ liệu cần ký.
Trường hợp nào thay đổi chữ ký điện tử làm hợp đồng vô hiệu?
– Thay đổi chữ ký điện tử là căn cứ hợp đồng vô hiệu theo thỏa thuận các bên.
Theo định nghĩa tại Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015:
Khái niệm hợp đồng
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Đồng thời, khoản 16 Điều 3 Luật Giao dịch điện tử 2023 nêu rõ:
Giải thích từ ngữ
…
16. Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu
Căn cứ Điều 36 Luật Giao dịch điện tử 2023 về Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử bao gồm:
Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử
1. Các bên có quyền thỏa thuận sử dụng thông điệp dữ liệu, phương tiện điện tử một phần hoặc toàn bộ trong giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử.
2. Khi giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, các bên có quyền thỏa thuận về yêu cầu kỹ thuật, điều kiện bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật có liên quan đến hợp đồng điện tử đó.
3. Việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử phải tuân thủ quy định của Luật này, quy định của pháp luật về hợp đồng và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Theo đó, pháp luật ưu tiên quyền tự do thỏa thuận của các bên khi thực hiện giao kết hợp đồng điện tử.
Như vậy, khi các bên có thỏa thuận cụ thể về việc thay đổi chữ ký điện tử là căn cứ khiến hợp đồng điện tử vô hiệu thì áp dụng theo thỏa thuận của các bên dựa vào nguyên tắc theo luật định như trên.
Căn cứ Điều 127 Bộ luật dân sự 2015 quy định về Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép cụ thể như sau:
Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.
Như vậy, thay đổi chữ ký điện tử sau khi đã giao kết hợp đồng không đương nhiên khiến hợp đồng điện tử bị vô hiệu theo luật định, trừ các trường hợp việc thay đổi chữ ký điện tử được xác định thuộc một trong các trường hợp nêu trên.







