Kinh doanh qua sàn thương mại điện tử có cần nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) không? Doanh thu bao nhiêu thì mới cần nộp thuế GTGT?
Kinh doanh qua sàn thương mại điện tử có phải nộp thuế GTGT không?
Căn cứ theo Điều 2 Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 có giải thích thì Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Mà theo khoản 1 Điều 2 Thông tư 40/2021/TT-BTC có quy định về các đối tượng chịu thuế GTGT:
Đối tương chịu thuế:
1. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh là cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật, bao gồm cả một số trường hợp sau:
a) Hành nghề độc lập trong những lĩnh vực, ngành nghề được cấp giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật;
b) Hoạt động đại lý bán đúng giá đối với đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm, đại lý bán hàng đa cấp của cá nhân trực tiếp ký hợp đồng với doanh nghiệp xổ số, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp bán hàng đa cấp;
c) Hợp tác kinh doanh với tổ chức;
d) Sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản không đáp ứng điều kiện được miễn thuế theo quy định của pháp luật về thuế GTGT, thuế TNCN;
đ) Hoạt động thương mại điện tử, bao gồm cả trường hợp cá nhân có thu nhập từ sản phẩm, dịch vụ nội dung thông tin số theo quy định của pháp luật về thương mại điện tử.
…
Như vậy, có thể thấy kinh doanh qua sàn thương mại điện tử chính là hoạt động thương mại điện tử thuộc đối tượng phải chịu thuế GTGT theo quy định của pháp luật.

Kinh doanh qua sàn thương mại điện tử đạt doanh thu bao nhiêu thì mới cần nộp thuế GTGT?
Theo khoản 25 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2025) có quy định đối tượng không chịu thuế GTGT như sau:
Đối tượng không chịu thuế:
…
25. Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu hằng năm từ 200 triệu đồng trở xuống; tài sản của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng bán ra; hàng dự trữ quốc gia do cơ quan dự trữ quốc gia bán ra; các khoản thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.
…
Tuy nhiên, căn cứ theo khoản 2 Điều 18 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 thì tới ngày 1/1/2026 quy định về mức doanh thu của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh thuộc đối tượng không chịu thuế trên mới có hiệu lực thi hành.
Do đó, trong năm 2025 thì hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu hàng năm trên 100 triệu vẫn phải nộp thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư 40/2021/TT-BTC
Còn từ ngày 1/1/2026 trở đi, hộ gia đình, cá nhân có doanh thu hàng năm trên 200 triệu mới phải nộp thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh.
Ai có nghĩa vụ nộp thuế GTGT thay người kinh doanh qua sàn thương mại điện tử có chức năng thanh toán từ ngày 1/7/2025?
Theo Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 có quy định về người nộp thuế giá trị gia tăng như sau:
Người nộp thuế:
1. Tổ chức, hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh).
2. Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là người nhập khẩu).
3. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ (kể cả trường hợp mua dịch vụ gắn với hàng hóa) của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều này; tổ chức sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ dầu khí và khai thác dầu khí của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam.
4. Nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số với tổ chức, cá nhân tại Việt Nam (sau đây gọi là nhà cung cấp nước ngoài); tổ chức là nhà quản lý nền tảng số nước ngoài thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài; tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng là phương pháp khấu trừ thuế mua dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thông qua kênh thương mại điện tử hoặc các nền tảng số thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài.
5. Tổ chức là nhà quản lý sàn giao dịch thương mại điện tử, nhà quản lý nền tảng số có chức năng thanh toán thực hiện khấu trừ, nộp thuế thay, kê khai số thuế đã khấu trừ cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trên sàn thương mại điện tử, nền tảng số.
6. Chính phủ quy định chi tiết các khoản 1, 4 và 5 Điều này; quy định về người nộp thuế trong trường hợp nhà cung cấp nước ngoài cung cấp dịch vụ cho người mua là tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp khấu trừ thuế quy định tại khoản 4 Điều này.
Như vậy, từ ngày 1/7/2025 khi Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 có hiệu lực thì tổ chức là nhà quản lý sàn giao dịch thương mại điện tử có chức năng thanh toán sẽ phải thực hiện nộp thuế thay cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trên sàn thương mại điện tử.